1. Thông tin vụ việc “Thầy Minh làm bùa yêu miễn phí” nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Được biết, từ đầu năm 2024 đến tháng 2/2025, có một nhóm đối tượng sử dụng trang Facebook “Thầy Minh Làm Bùa Yêu Miễn Phí” sau này là “Thầy Hải Làm Bùa Yêu Miễn Phí” đăng nhiều hình ảnh, video được tải về từ trên mạng Internet có nội dung, hình ảnh thầy mo Bùi Văn Minh (sinh năm 1970), trú tại Xóm Mận, xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình làm lễ cúng theo phong tục tập quán của người dân tộc Mường.
Sau khi có người nhắn tin vào trang Facebook “Thầy Minh Làm Bùa Yêu Miễn Phí”, các đối tượng sử dụng nhiều tài khoản Zalo mang tên “Bùi Văn Minh” hoặc “Bùi Văn Hải” với nhiều số điện thoại nhằm kết bạn nhắn tin tư vấn cho những người có nhu cầu làm “bùa yêu”, hàn gắn tình cảm, tình duyên, tài lộc,… theo kịch bản đã được soạn sẵn.
Để tạo sự tin tưởng cho bị hại, đối tượng còn yêu cầu bị hại chuyển quần, áo đến địa chỉ xóm Mận, xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình để “Làm lễ”, “Làm bùa yêu”, ” Cắt vong “, “Giải bùa”,… và gửi cho họ một số video làm lễ được cắt ghép, lồng tiếng. Mỗi “lễ” các đối tượng yêu cầu bị hại chuyển tiền từ 300.000 đồng đến 4.000.000 đồng vào nhiều tài khoản ngân hàng khác rồi chiếm đoạt số tiền.
Với phương thức như trên, trung bình mỗi tháng các đối tượng thu được số tiền khoảng 50-70 triệu đồng, số tiền này được cả nhóm sử dụng để chi tiêu chung như ăn uống, trả tiền thuê nhà, chơi game, mua điện thoại,…
Ngày 17/3/2025, Công an tỉnh Hòa Bình cho biết, đang điều tra xác minh vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra trên không gian mạng nêu trên.

(Hình ảnh minh họa)
2. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng có thể bị xử phạt bao nhiêu năm tù?
Căn cứ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Như vậy, nếu có đầy đủ bằng chứng thể hiện việc bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì “Thầy Minh làm bùa yêu miễn phí” có thể phải đối mặt với một trong những mức phạt nêu trên.
3. Cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
- Chủ thể: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Khách thể: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
- Mặt chủ quan:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
- Mặt khách quan:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
+ Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
+ Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
+ Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Về giá trị tài sản: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 02 triệu đồng trở lên.
Nếu dưới 02 triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Nếu còn vấn đề vướng mắc, bạn đọc vui lòng liên hệ đến tổng đài 1900.633.722 để được tư vấn pháp luật miễn phí.




